tracuuluatviet.vnTrợ lý tra cứu pháp luật Việt Nam

Chương XIII KHÁM XÉT, THU GIỮ, TẠM GIỮ TÀI LIỆU, ĐỒ VẬT

Điều 193. Thẩm quyền ra lệnh khám xét

Bộ luật Tố tụng hình sự 101/2015/QH13 (Văn bản hợp nhất 172/2026/VBHN-LQ-VPQH)

1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

2. Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.

3. Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.

4. Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.

Chú thích văn bản hợp nhất

  • [116] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
  • [117] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Hỏi trợ lý về Điều này

Hỏi trợ lý